Posts tonen met het label thuốc ở quanh ta. Alle posts tonen
Posts tonen met het label thuốc ở quanh ta. Alle posts tonen

woensdag 11 december 2013

TẠI SAO ăn GẠO LỨT ?

hôm trước nói chuyện với một người bạn về thực phẩm và dinh dưỡng, bạn hỏi tôi "bị bệnh gì mà phải ăn gạo lứt?" câu hỏi của bạn làm tôi quá ngạc nhiên và hơi giật mình !

PHẢI ăn hay ĐƯỢC ăn gạo lứt ? với tôi, GẠO LỨT là lựa chọn đúng đắn và sáng suốt cho sức khỏe của cả gia đình. Tại sao?

"Gạo lứt là loại gạo chỉ vừa mới bóc đi lớp vỏ trấu, vẫn còn lớp cám bao bọc bên ngoài. Nếu giã sạch lớp cám này sẽ cho ra gạo trắng. Lớp cám của hạt gạo lứt chứa nhiều dưỡng chất quan trọng như: vitamin E, vitamin B1, B3, B6, ma-giê, man-gan, chất xơ, sắt…

Ở gạo trắng, qua quá trình xay, giã, 67% vitamin B3, 80% vitamin B1, 90% vitamin B6, một nửa lượng man-gan và hầu hết chất xơ đã bị mất đi.

Nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh rằng trong lớp cám của gạo lứt chứa một chất dầu đặc biệt và là nguồn chất xơ dồi dào có tác dụng điều hòa huyết áp, làm giảm cholesterol xấu, giúp ngăn ngừa các bệnh về tim mạch, giảm nguy cơ mắc bệnh tim, ung thư và bệnh tiểu đường."

Gạo lứt quân bình hơn và "toàn diện" hơn gạo trắng. Khi vào cơ thể nó "cháy chậm" hơn vì vậy không gây tăng đột ngột lượng đường trong máu. Gạo lứt cứng nên khi ăn phải nhai kỹ hơn, giúp tuyến nước bọt hoạt động, giảm tải cho dạ dầy.

Thế nên, để giữ thân thể khỏe mạnh, tâm trí bình hòa thì gạo lứt là lựa chọn tốt nhất. Nếu chưa tin thì thử mà xem ;)

Hại GAN nhanh nhất = cách nào ?

1. Đi ngủ muộn và thức dậy muộn
2. Không đi tiểu sau khi ngủ dậy
3. Ăn quá nhiều
4. Bỏ bữa sáng
5. Uống nhiều thuốc (tây)
6. Ăn thức ăn có quá nhiều chất bảo quản, phụ gia thực phẩm, màu thực phẩm và chất tạo ngọt.
7. Ăn dầu rán kém chất lượng. Dùng quá nhiều dầu khi rán (chiên) - xào, kể cả loại chất lượng tốt nhất như dầu oliu cũng không nên lạm dụng. Ăn đồ rán khi người mệt mỏi.
8. Ăn quá nhiều đồ sống cũng hại gan.
9. Đồ uống có cồn.
10. Ăn thức ăn bị mốc, đặc biệt là ngũ cốc và lạc mốc.

Thực phẩm bổ gan:

gia vị: tỏi, nghệ
quả : chanh, bưởi, bơ
rau: các loại rau xanh lá, hoa lơ xanh, hoa atiso
hạt: vừng, óc chó ...
trà: trà ta, trà xanh, trà bancha, trà gạo lứt rang, atiso

A Di Đà Phật _(*)_

Hại NÃO nhanh nhất = cách nào ?


1. Không ăn sáng
2. Ăn quá nhiều
3. Hút thuốc
4. Ăn quá nhiều đường
5. Thiếu ngủ lâu ngày
6. Trùm đầu khi ngủ
7. Làm việc khi bị ốm hoặc vừa qua cơn bệnh
8. Lười suy nghĩ
9. Ít giao tiếp
10. Ít vận động
11. Uống nhiều rượu

thức ăn tốt cho não:

các loại đậu đỗ, hạt (lạc, vừng, hướng dương)
rau: màu đậm (xanh, vàng, đỏ ...)
quả: bơ, lựu, dâu, ôliu
cá béo như cá hồi, cá mòi, cá trích (sardine)
đồ uống: trà xanh, cacao
ngũ cốc lứt
các câu đố, các bài toán vui
vận động hợp lý

A Di Đà Phật _(*)_

maandag 10 oktober 2011

Ô MAI MƠ, MẬN GIÚP GIỮ GÌN SỰ TƯƠI TRẺ CHO CƠ THỂ


Mặc dù rất phổ biến và được bán rộng rãi khắp nơi, ít ai biết giá trị dinh dưỡng của các loại quả trong họ nhà mơ-mai-mận này, đặc biệt là tác dụng chống lão hóa, giúp cơ thể trẻ lâu hơn.

Mơ, mai, mận là những loại quả có nhiều vào mùa hè, có thể ngâm để pha nước uống giải khát, làm ô mai hoặc ăn tươi.

Quả mơ, mai, hay mận đều có chứa nhiều protein, chất béo, carbohydrate, các muối vô cơ, vitamin C, canxi, phốt pho, sắt, kali, ngoài ra chúng cũng giàu axit malic, axit citric, axit succinic… Hơn nữa, trong các loại quả này còn có thành phần kháng khuẩn quan trọng có hiệu quả chống lại các trực khuẩn gây bệnh kiết lị và và có tác dụng ức chế nhiều loại nấm trên da, giúp da đẹp hơn.

Y học hiện đại đã chứng minh rằng mận không có tác dụng chống ung thư nhưng có thể cải thiện chức năng tế bào, tăng thực bào, ức chế tế bào ung thư. Quả mai, mận cũng được sử dụng trong điều trị ung thư thực quản, ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng, ung thư bàng quang, ung thư da, ung thư dương vật, và liệu pháp bổ trợ.


Một số tác dụng cụ thể của các loại quả mơ, mai, mận:

1. Bảo vệ hệ tiêu hóa: các thành phần có trong loại quả này có chức năng khử trùng và ngăn chặn sự phát triển những tác dụng xấu của thực phẩm khi vào trong ruột.

2. Loại bỏ táo bón: quả mai có chứa một lượng axit malic có tác dụng tác động tới việc hình thành phân để bài tiết tốt.

3. Tăng cảm giác ngon miệng: không cần phải dùng đến phương thuốc trị bệnh nào, chỉ cần ăn các quả mai, mận trong một thời gian ngắn sẽ lấy lại được cảm giác ngon miệng và giúp các cơ quan trong cơ thể hoạt động đúng các chức năng của nó. Các loại quả này cũng có tác dụng loại bỏ sự chán ăn do stress, ăn quá nhiều. Mỗi ngày chỉ cần ăn một vài quả mận là đã có thể tăng cảm giác thèm ăn cho những người chán ăn, nhất là trong ngày hè nắng nóng này.

4. Chống lão hóa: chẳng ai muốn mình bị già đi nhanh chóng, thậm chí già hơn nhiều so với tuổi. Nói đơn giản là không muốn bị lão hóa. Để quá trình này diễn ra chậm hơn, hãy ăn ô mai mơ, mận hàng ngày. Ăn ô mai sẽ kích thích sự tiết nội tiết tố mang tai, và điều này có thể ngăn ngừa sự lão hóa các hormone.

5. Tăng năng lượng: Khi thanh lọc máu, sự trao đổi chất tăng lên, cơ thể tự nhiên sẽ khôi phục lại năng lượng. Axit citric có trong các loại quả này giúp hấp thụ vitamin và các enzym, và có thể ngăn ngừa bệnh tật và giảm mệt mỏi.

Riêng bên Thực Dưỡng luôn có các loại ô mai mơ lâu năm (từ hai năm trở ra). Đây thực sự là một thức ăn kỳ diệu mà nhà tớ luôn luôn có sẵn. Để làm gì ư ? Thi thoảng nấu cùng cháo, nấu soup, nấu canh, nấu bột sắn (cùng củ sen) hoặc nấu trà ... đơn giản nhất là ngậm một quả mỗi ngày cũng làm cho hệ tiêu hóa mạnh mẽ và sạch sẽ hơn. Mọi người thử mà xem, tác dụng vô cùng rõ rệt đấy !



maandag 22 november 2010

VIÊM HỌNG - HO

Viêm sưng có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân cơ bản nhất là dư thừa đạm động vật trong cơ thể, và máu bị chua (nghe kinh quá :P).

Ho cũng có nhiều nguyên nhân vì vậy, việc chữa trị không đơn giản. Cần phải biết rõ nguồn gốc gây bệnh, từ đó việc loại bỏ bệnh tật sẽ đơn giản và hữu hiệu hơn. Tớ chia sẻ ở đây một vài bài thuốc trị ho kèm triệu chứng nhé.

- Đau họng ngày đầu tiên: cảm thấy rát cổ, nuốt khó, có thể nổi hạch hai bên hàm: súc miệng nước muối ấm hoặc nước muối ấm thêm vài giọt chanh. Mục đích là để kiềm hóa và dương hóa ổ viêm, chóng lành. Bên ngoài có thể dùng trợ phương áp gừng và đắp cao sọ (ở vùng cổ họng), xem bài áp gừng và áp sọ nhớ :D

- Ho có đờm, ho do cảm lạnh, do viêm phổi và đường hô hấp: dùng trà củ sen (củ sen có tác dụng làm tan chất nhầy ứ đọng ở hệ hô hấp và loại bỏ chúng ra khỏi cơ thể), cách làm như sau:

*củ sen tươi: nạo  một đoạn củ sen chừng 5cm, vắt lấy nước, thêm vài giọt gừng tươi (nạo gừng vắt lấy nước), thêm chút muối biển + một lượng nước bằng hỗn hợp đang có và nấu trong vài phút. Uống thật nóng.
*khi không đúng mùa sen thì có thể dùng củ sen khô, nấu chừng 10g củ sen khô với 1 tách nước trong 15 phút, thêm 2,3 giọt gừng mài & dúm muối biển. Uống nóng.

Mẹ tớ có món chanh muối rất hay, cũng rất tốt cho họng. Chanh được ngâm muối lâu ngày, sau đó lấy ra phơi nắng, đêm mang vào nhà, cứ như vậy cho đến khi quả chanh khô quắt lại. Chanh muối này cũng có tác dụng tốt như mơ muối lâu năm (tuy không bằng), vì nó kiềm hóa và dương hóa máu, nên giúp chóng khỏi ho.

Túm lại, đừng bị ho vẫn là tốt nhất, nhể ?

maandag 25 oktober 2010

TÁC DỤNG CỦA GIA VỊ ĐỐI VỚI SỨC KHOẺ

Gia vị là thứ không thể thiếu khi nấu nướng. Về cơ bản rau củ quả là như nhau và gia vị sẽ làm cho món ăn thay đổi. Ngoài điều này ra, gia vị còn là “chìa khóa” cho sức khoẻ và sự ngon miệng, nên tớ rất khoái tìm hiểu về gia vị và khoái “thử nghiệm” các loại gia vị … xem "ra răng" hihi. Hôm nay tìm được bài này thấy hay và bổ ích, nên share ở đây nhé !
________________

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra 7 loại siêu gia vị có chứa lượng chất chống oxi hóa tương đương như ở các loại rau và trái cây.

Lợi ích của các gia vị và rau thơm

Chống oxi hóa: các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng chất chống oxi hóa là chất cơ bản được tìm thấy trong các loại rau củ và trái cây, chất này có khả năng bảo vệ các tế bào chống lại ảnh hưởng của free radicals (các phân tử bị oxi hóa).
Các phân tử bị oxi hóa (free radicals) là các phân tử được sản sinh ra khi cơ thể không tiêu hóa được thức ăn hoặc ảnh hưởng của môi trường bên ngoài như khói thuốc lá và các bức xạ nhiệt. Chất chống oxi hóa (antioxidants) có thể bảo vệ bạn chống lại các bệnh về tim mạch, bệnh ung thư và các loại bệnh khác. Chất chống oxi hóa bao gồm: beta-caotene, lutein, lycopene, selenium và các vitamin A, C, E.
Có tính kháng viêm: Các nhà nghiên cứu cũng tìm ra thuộc tính bảo vệ đặc biệt có trong các loại thảo mộc và gia vị à vai trò của chúng trong việc hạn chế các viêm nhiễm. Chứng sưng viêm xảy ra như một triệu trứng của cơ thể trước nhiều bệnh thường gặp như bệnh tim, các dạng dị ứng… Gia vị và các loại thảo mộc thường có mặt trong các món ăn giúp kháng viêm, đó không đơn thuần là để tăng mùi vị cho món ăn mà là để hỗ trợ cơ thể chúng ta chữa khỏi các tổn thương.
Giảm cân: Các chuyên gia nghiên cứu ra khả năng tiềm ẩn của các loại gia vị là tăng cường trao đổi chất, gây cảm giác no, giúp chúng ta kiểm soát cân nặng và gia tăng chất lượng các bữa ăn hàng ngày. Chất capsaisin trong hạt tiêu và ớt được cho là có khả năng tăng cường trao đổi chất. Ngoài ra nếu đồ ăn của bạn được nêm đầy đủ gia vị khiến bạn ăn ngon miệng và nhanh no thì đó cũng là cách tốt để bạn nạp ít thức ăn vào người hơn và đương nhiên là cũng ít calories hơn.

7 loại siêu gia vị là …

1. Quế
 
Quế rất dễ sử dụng, linh hoạt và thơm ngon. Chỉ cần thêm ½ thìa bột quế vào chỗ cà phê xay của bạn trước khi pha chế hoặc hòa quế với mật ong và cho vào trà để làm ngọt, với các cách đơn giản đó bạn đã bổ sung thêm hương vị và làm thức uống thêm tốt cho sức khỏe.
Ngoài ra bạn có thể trộn quế vào sữa chua hoặc rắc vào bát ngũ cốc, trộn với bí đỏ hầm hay cho vào ly sinh tố cũng rất ngon. Quế là gia vị tuyệt vời cho các loại bánh mỳ, bơ lạc và các thức ăn từ trái cây. Bên cạnh lợi ích từ chất chống oxi hóa, quế còn giúp điều chỉnh lượng đường máu và cholesterol trong cơ thể.

2. Lá thơm Oregano

1 thìa lá thơm Oregano có chứa lượng chất chống oxi hóa tương đương với 3 chén hoa lơ xanh (nhưng bạn đừng “bỏ rơi” hoa lơ xanh mà hãy dùng cả hai thứ rau này).
Rau Oregano là loại thảo mộc khô chứa nhiều chất chống oxi hóa nhất. Nó có thể được dùng trong nhiều món ăn quen thuộc, bạn có thể cho lá này lên trên chiếc bánh pizza, món mỳ Ý tự làm hay chiếc sandwich pho mát nướng thơm ngon. Lá oregano thưòng được dùng để ướp cá, bò cừu nhằm để khử mùi.

3. Gừng

Bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên khi biết rằng 1 thìa gừng có lượng chất chống oxi hóa bằng với 1 chén rau cải. Và gừng có thể được dùng trong các món ăn cả ngọt và cả mặn
Để làm hài lòng những ai ưa đồ ngọt bạn chỉ cần thêm thứ gia vị cay ấm này vào những lát hoa quả, hay hòa cùng sữa chua lạnh, kem hoặc cho vào một số loại bánh ngọt.

Với những người thích đồ mặn thì bột gừng có thể được hòa với mật ong và tẩm ướp các loại thịt như cá, gà, thịt lợn…. Gừng còn được sử dụng nhiều trong pha chế, tẩm ướp hay làm các loại nước sốt.
Ngoài ra gừng còn được biết đến là “liều thuốc” tố cho tiêu hóa, chống buồn nôn và giảm đau.

4. Ớt
 
Gia vị từ ớt đỏ bao gồm: ớt cay, ớt bột và ớt khô giã nhỏ. Việc thêm mùi vị cay nóng vào món ăn dường như đã trở nên không thể thiếu trong các bữa ăn. 

5. Lá hương thảo

Hợp chất trong lá hương thảo giúp giảm bớt các viêm nhiễm trong cơ thể, các sưng viêm này là nguy cơ gián tiếp dẫn đến các bệnh mãn tính. Hương thảo còn được cho là đóng vai trò nhất định trong sức khỏe tim mạch. Hãy cho lá hương thảo vào các loại nước ướp thịt, nước sốt cà chua cũng như các loại bánh mỳ, bánh cuộn.

6. Húng

Bên cạnh tác dụng chống oxi hóa các nghiên cứu cũng chỉ ra vai trò của cây húng với các chức năng hô hấp. Để thêm rau húng vào các bữa ăn, bạn hãy thái nhỏ húng ra cho vào nước sốt, vào dầu dấm trộn salad hoặc rắc vào các món cá, thịt vịt, ngan, thịt heo luộc…

7. Củ nghệ

Loại củ có màu vàng sáng này được xay ra và có nhiều trong thứ bột cà ri thường dùng. Nghệ có vai trò trong duy trì sức khỏe của bộ não, bảo vệ não chống lại sự kém nhận thức do tuổi tác. Cách ăn bột nghệ: trộn vào với trứng hoặc các món thịt gà, cá, tạo màu khi nấu canh. Nấu các món cà ri với thịt gà, bò…

Bao nhiêu gia vị và thảo mộc thì tốt cho sức khỏe? 
 
Bạn nên cho gia vị và các loại rau thơm vào các bữa ăn hàng ngày, tuy nhiên cũng không có định lượng nào cụ thể cả, chỉ đơn giản là ăn đều đặn hàng ngày.  Các gia vị và chất dinh dưỡng sẽ giúp chúng ta ngon miệng hơn đồng thời giảm bớt sử dụng muối, chất béo và đường trong các món ăn.

Đun nóng có làm mất đi tác dụng của gia vị và thảo mộc? 

Khi phân tích khoa học thì gia vị và thảo mộc vẫn giữ được thuộc tính của nó, nhưng lại chưa có câu trả lời chính xác nào cho việc đun nấu có làm mất tác dụng không. Tuy nhiên quá trình đun nấu thường làm cho các hợp chất trong thức ăn dễ được cơ thể hấp thu hơn. 

Vậy hãy nêm các loại gia vị, rau thơm và làm cho bữa ăn của bạn thêm sống động cũng như tăng cường sức khỏe cho gia đình mỗi ngày 

________
nguồn: 
http://afamily.vn/2009040103350298tm0ca52/Tac-dung-cua-cac-gia-vi-trong-bua-an

donderdag 26 augustus 2010

CAO KHOAI SỌ

Áp cao khoai sọ là một pp đơn giản nhưng cực kỳ hữu hiệu để trị các chứng viêm sưng, tấy đỏ, mưng mủ … như viêm khớp, phong thấp, ung nhọt, viêm dây thần kinh … hoặc sau các va chạm gây bong gân, bầm dập, gãy xương, phỏng. Cao sọ còn có thể sử dụng để chữa các loại ung bướu như bướu lành, mụn cóc, bướu xơ, u nang … Cao sọ còn được dùng để trị ung thư như một phương pháp hỗ trợ nhằm kích thích bài tiết giảm kích thước khối u, sau đó việc phẫu thuật được đơn giản và dễ dàng hơn.

Cao bao gồm 90% khoai sọ và 10% bột gừng khô hoặc gừng tươi nạo.

Tác dụng: cao sọ kéo chất độc và các chất chết (như mủ, chất độc, máu đông cục dưới hình thức áp xe, bướu, vết bầm dập) ra khỏi cơ thể qua đường da. Cao sọ làm giảm viêm sưng và ngừa tạo viêm, đặc biệt viêm sau khi va đụng hoặc bong gân. Cao sọ còn có khả năng hút nhịêt tại chỗ.

Chuẩn bị
- khoai sọ: vừa đủ để sau khi mài có thể áp lên vùng bị đau một lớp dầy khoảng 1.5-2cm.
- gừng tươi hoặc bột gừng khô
- băng gạc
- bàn nạo (nạo rau củ)
- chút bột mỳ hoặc bột gạo, nếu cần (khi khoai nhiều nước quá khó đắp)
- 1 khăn vải cotton

Cách làm:
-        khoai rửa sạch, gọt vỏ (đừng gọt dầy quá) sau đó mài theo chiều kim đồng hồ cho đến khi hết. Nếu khoai nạo ra quá ướt thì cho chút bột mỳ hoặc bột gạo cho dính. Bột này phải đặc như hồ vữa hoặc bùn.
-        Thêm bột gừng khô, hoặc nạo gừng tươi vào chỗ khoai theo tỷ lệ 9 khoai 1 gừng, trộn thật đều.
-        đắp cao: trước khi đắp cao, để cho kết quả tốt hơn, nên đắp gạc gừng từ 10-15 phút (tùy tình trạng bệnh có thể đắp dài hơn hoặc ngắn hơn). Trải khoai vào khăn cotton và áp vào chỗ đau (áp trực tiếp lên da). Nếu cần có thể buộc chặt để cố định cao.
-        thường cao sẽ khô sau 4h, nếu khoai khô nhanh quá hãy gỡ bỏ và thay khoai mới. Gỡ cao đau (vùng có lông, tóc) có thể dùng nước ấm để rửa.

Lưu ý: không dùng nước nóng chế cao khoai sẽ làm mất tác dụng. Không phủ tấm nhựa lên cao vì nó có thể làm da bị loét. Da có thể trở nên đen sau khi áp cao kéo dài, như vậy là bình thường. Khi áp cao bị ngứa, có thể do trộn quá nhiều hoặc trộn không đều/không kỹ bột gừng. Có thể xoa dầu cải, dầu mè vào vùng ngứa và cho thêm chút muối vào cao, đồng thời giảm gừng còn 5%.

vrijdag 20 augustus 2010

ÁP GỪNG


Là một phương pháp trị liệu đơn giản làm tại nhà, áp dụng cho các chứng đau phong thấp, đau khớp, đau căng cứng cơ, viêm sưng trên cơ thể. Tuy hơi cách rách hơn các loại cao dán sẵn, áp gừng lại giúp cho người thân trong gia đình chăm sóc và thể hiện tình thân ái đối với nhau.

Tác dụng: kích thích tuần hoàn lưu thông máu và các chất lỏng ứ đọng, gây đau đớn viêm sưng hoặc co cứng.
Lưu ý là áp gừng làm giảm rất nhanh triệu chứng nhưng không làm mất nguồn gốc gây bệnh. Sau khi áp gừng nên áp thêm cao khoai sọ, khoai tây … để tiêu viêm và hút chất độc ra khỏi cơ thể.

Chuẩn bị
½ lạng gừng
1 túi vải nhỏ để đựng gừng đun
1 bàn nạo (nạo rau củ)
1 lít nước đun sôi
1 nồi to (để dễ dàng khi thao tác)
2-3 khăn bông dầy

Cách làm:
- gừng rửa sạch, để cả vỏ, mài theo chiều kim đồng hồ cho đến khi hết. Cho vào túi nhỏ, buộc chặt mịêng túi, để túi lỏng cho nước lưu thông vào túi, khi đun chất gừng sẽ ra hết.
- cho nước vùa đun sôi vào nồi, thả túi gừng, châm lửa cho sôi liu riu chừng 10-15 phút (lưu ý: không cho sôi bùng sẽ làm mất tác dụng của gừng)
- giảm lửa thật nhỏ, nhúng khăn bông vào nước gừng, vắt ráo và đắp vào vùng cần điều trị.

Một lần đắp từ 15-30 phút, tuỳ theo vị trí và mức độ sưng đau.

nước gừng còn lại có thể dùng để ngâm chân, pha thêm vào nước tắm, hoặc dùng để chà xát người vào buổi sáng rất tốt. nước gừng chỉ có tác dụng trong vòng 24 giờ.

Lưu ý:

-        không dùng cho vùng đầu
-        nếu viêm xoang, chỉ nên áp rất nhẹ trên mặt, hoặc rửa mặt bằng nước gừng ấm
-        không dùng cho trẻ em và người cao tuổi gầy ốm.
-        không dùng cho bệnh nhân ung thư đắp vào u
-        khi đang sốt, phải hạ sốt trước khi đắp gừng
-        không đắp  vùng bụng phụ nữ có thai
-        không dùng cho viêm ruột thừa hoặc nhiễm độc viêm phổi.

zaterdag 19 juni 2010

Vai trò của chất xơ đối với cơ thể

Vì vai trò quan trọng đối với sức khỏe con người, chất xơ thực phẩm ngày càng được chú ý nghiên cứu, từ việc dùng chất xơ làm thức ăn chính, thức ăn bổ sung đến việc đưa ra những chế độ ăn giàu chất xơ. Nguồn cung cấp chất xơ duy nhất cho cơ thể là từ các loại rau quả, đậu, hạt, ngũ cốc.

Nguồn cung cấp chất xơ

Chất xơ là chất bã thức ăn còn lại sau khi được tiêu hóa, gồm các chất tạo thành vách tế bào (cellulose, hemicellulose, pectin và lignin) và các chất dự trữ, bài tiết bên trong tế bào (gôm, nhầy). Hiện nay, các chất sáp, cutin, glycoprotein (chất đạm cấu tạo vách tế bào không tiêu hóa được) cũng được xếp vào loại chất xơ thực phẩm.
Chất xơ cung cấp cho cơ thể con người chủ yếu là từ trái cây, rau ăn lá, củ rễ, rau đậu, các loại đậu hạt, ngũ cốc còn lớp vỏ cám, cám gạo. Chất nhầy (là loại chất xơ tan được) có trong rau mồng tơi, rau đay, mướp, thanh long, hoàng tinh, xương sâm, xương sáo (thạch đen), hột é (húng quế), hột é trắng (trà tiên), vỏ hột đười ươi, mủ trôm, rau câu, lá găng... Mỗi loại rau quả chứa loại chất xơ và lượng chất xơ khác nhau. Rau, củ, quả nào càng nhiều bã và càng già thì chứa càng nhiều chất xơ.

Tác dụng của chất xơ

Trước kia, người ta xem chất xơ là một chất trơ không có giá trị dinh dưỡng vì không tiêu hóa được. Nhưng ngày nay, chất xơ được xem có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Tác dụng đáng chú ý nhất của chất xơ là giúp cải thiện chức năng ruột già. Nhờ khả năng ngậm nước mạnh, chất xơ thực phẩm được xem như thuốc nhuận tràng loại tạo khối phân, giúp bình thường hóa tình trạng phân và số lần đi tiêu. Như vậy, tác dụng chính của chất xơ thực phẩm đối với ruột già là chống táo bón và cung cấp năng lượng hoạt động cho tế bào ruột già. Ăn thiếu chất xơ có thể gây rối loạn ruột già. Dùng các loại rau quả có nhiều xơ là một trong những cách tốt nhất để phòng ngừa và điều trị táo bón chức năng.

Chất xơ giúp phòng ngừa tình trạng khó đi tiêu ở bệnh nhân tim mạch, bệnh hậu môn (trĩ, mạch lươn), phụ nữ mang thai... Dùng lâu dài làm giảm được triệu chứng của hội chứng đại tràng kích thích, bệnh túi thừa đại tràng và viêm đại tràng mạn tính; Giảm triệu chứng trong tiêu chảy cấp và giúp điều chỉnh rối loạn hoạt động ruột do mổ ruột già hay hồi tràng.

Các nhà dinh dưỡng khuyên chúng ta nên ăn rau, trái cây hơn là uống nước ép của chúng; Ăn ngũ cốc còn lớp cám hơn là ngũ cốc đã loại bỏ cám. Trung bình, mỗi ngày nên ăn khoảng 2 chén rau đầy (trên 400g). Tác dụng chống táo bón thường thấy rõ sau 24 giờ và đạt mức tối ưu sau 1-3 ngày dùng liên tục. Đây là điều cần chú ý vì hầu hết bệnh nhân táo bón thường nôn nóng, muốn dùng món ăn hay thứ thuốc nào có tác dụng nhanh, mà nhanh - thường không hẳn là tốt, lại dễ gây lệ thuộc.

Tác dụng quan trọng thứ hai của chất xơ thực phẩm là góp phần làm giảm cholesterol máu. Điều cần lưu ý là chất xơ trong thức ăn có làm giảm cholesterol máu hay không còn tùy thuộc vào loại chất xơ, lượng chất xơ ăn vào, mức độ tăng cholesterol máu... Thức ăn có chứa chất xơ tan như cám yến mạch, pectin, lúa mạch, đậu hạt, rau đậu, trái cây và rau có thể làm giảm được 5-10% lượng cholesterol máu, có khi tới 25%, nhưng nếu tách riêng chất xơ ra để dùng thì chỉ làm giảm được cholesterol dưới 5%.

Tác dụng quan trọng thứ ba của chất xơ thực phẩm là hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh một số chất xơ tan làm tinh bột lưu lại lâu trong ruột, chậm hấp thu glucose, do đó làm lượng đường trong máu không tăng cao đột ngột. Tinh bột chậm tiêu hóa còn tạo cảm giác no, góp phần làm dịu đáp ứng đường huyết. Thức ăn xay thô có tác dụng tốt hơn xay mịn và thức ăn giàu chất xơ tốt hơn là xơ chiết tinh.

Chất xơ còn tác dụng giúp điều chỉnh cân nặng. Chất xơ có tính nhớt như gôm, pectin, gel, chất nhầy sẽ tạo cảm giác no, làm giảm lượng ăn, cản trở khả năng tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng.

Dùng nhiều chất xơ có tác dụng xấu gì không?

Dùng nhiều thức ăn chứa chất xơ không gây nguy hiểm gì ngoài cảm giác tự nhiên là no đầy và đôi khi sôi bụng. Nhưng nếu dùng chất xơ dưới dạng bột khô tinh chế thì có thể gây tác dụng phụ. Người có cơ địa dị ứng hít phải bột khô của chất xơ chiết tinh có thể bị dị ứng.

Người vốn bị hẹp môn vị, dính ruột, bán tắc ruột nếu nuốt phải một lượng lớn chất xơ tan, nhất là bột khô có thể gây tắc thực quản hay tắc ruột do khả năng hút nước đóng cục. Có thể dễ dàng phòng tránh điều này bằng cách không dùng chất xơ dạng bột và uống nhiều nước sau khi dùng chất xơ.
Có nên uống thuốc sau bữa ăn có chất xơ?

Không nên uống thuốc sau bữa ăn có chất xơ vì chất xơ trong thức ăn có thể làm giảm hấp thu nhiều loại thuốc như paracetamol, các thuốc trợ tim loại digoxin hay glycoside trợ tim, calci, sắt, kẽm, đồng, salicylat (aspirin), nitrofurantoin, các dẫn chất của coumarin.

Tốt nhất, nên uống thuốc trước bữa ăn có chất xơ hơn 1 giờ, ngoại trừ thuốc chống viêm. Người không ăn được rau quả có thể bổ sung chất xơ bằng các loại thức ăn làm sẵn chế từ ngũ cốc còn lớp cám (bánh cám, bột cám rắc lên các món ăn khác, cháo gạo lứt, bánh mì đen), rau câu, xương sâm, xương xáo, hột é, mủ trôm v.v...

Cuối cùng, nên tăng từ từ lượng chất xơ ăn vào để giảm thiểu các tác dụng phụ có thể xảy ra. Người trưởng thành khỏe mạnh nên ăn ít béo, nhiều chất xơ từ nhiều nguồn (trái cây, rau, đậu hạt).

Các đối tượng sau đây cần chú ý ăn đủ chất xơ: trẻ em, phụ nữ mang thai và cho con bú, người cao tuổi và người mắc bệnh mạn tính. Chất xơ đặc biệt hữu ích cho người bệnh tiểu đường, vữa xơ động mạch, ung thư, viêm ruột thừa, loét tá tràng, bệnh tim thiếu máu, viêm túi mật, viêm loét đại tràng, bệnh Crohn, giãn tĩnh mạch, thuyên tắc tĩnh mạch sâu, thoát vị ruột. Tuy nhiên, nếu cơ thể đang trong tình trạng thiếu dinh dưỡng mà quá lạm dụng chất xơ, có thể sẽ gây tình trạng mất cân bằng khoáng chất và dinh dưỡng.

Thạc sĩ BS. LÊ HOÀNG SƠN
Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM
(Theo Tuổi trẻ)

maandag 7 juni 2010

NHỊN ĂN MỘT NGÀY.

Hôm qua chủ nhật, nhân ngày 24 âm lịch, tớ nhịn ăn. Thực ra tốt nhất (theo truyền thống Yoga) nên nhịn vào hai ngày 11 và 26 âm lịch – vì hai ngày này cơ thể thải độc nhiều và dễ dàng nhất, nhưng nếu nhịn vào ngày đi làm, sợ đang đi giữa đường lại hỏi thăm vỉa hè thì hết hơi, nên thôi. Dù không phải là “best option”, nhưng cũng là “good option” roài.

Một điều lạ là hôm qua nhịn tớ thấy rất mệt, mệt nhiều hơn những lần nhịn trước đây. Gọi là mệt hơn nhưng vẫn làm vịêc nhà bình thường, dọn dẹp này nọ, vẫn nấu bữa cơm chiều thơm ngon tinh khiết cho hai ba con, hihi … Nhưng đầu thì nặng, cảm giác đau đầu và người rất khó chịu. Điều này cho thấy lần này cơ thể thải độc tốt hơn các lần trước, không biết có phải vì đợt vừa rồi tớ tăng ăn chay lên không ??? Hay là vì độ này ăn lăng nhăng nên nhiều chất bẩn hơn (lăng nhăng theo góc độ thực dưỡng, ví dụ như ăn hơi bị âm nhiều gồm nhiều đỗ đậu bí, hay ăn cháo mỳ … nên cơ thể bị thành ra âm hoá).

Đêm qua khó ngủ, cũng là một điều rất lạ. Thông thường khi nhịn ăn thì ngủ ngon lắm, không vẫy tai luôn ý, thế mà hôm qua lại không ngủ được, cứ trở mình và thở … dài, hic

Mọi lần trước nhịn tớ uống ít nước, hôm qua thử uống nhiều nước xem sao (cả ngày uống khoảng 750ml). Sáng thì đi tiểu nhiều, nước tiểu trắng trong. Chiều đi ít lại và nước tiểu trở về bình thường (màu bia, trong).

Sáng nay dậy, ui chao là mệt. Nhưng cũng vẫn đi súc miệng dầu vừng trước, rồi đun nước, pha nước chanh … súc mịêng dầu vừng 20 phút nhưng cảm thấy dầu đặc sệt chứ kg loãng ra như mọi khi, có lẽ do miệng quá khô. Người có dấu hiệu nóng và ra mồ hôi dù trời mát và đang mặc áo cộc tay.

Uống nước chanh thì bắt đầu thấy lạnh, phải đi mặc thêm áo (âm hoá cơ thể rất nhanh), nuốt chuối xong, làm bát cháo nóng + tamari, người lại ấm lên ngay. Tỉnh như con sáo rồi … tý nữa sẽ ăn cơm lứt xem sao, mọi khi ăn hai bữa cháo thấy thiếu năng lượng trầm trọng.

Tạm ghi lại thế, để lần sau tham khảo và so sánh.

maandag 31 mei 2010

Bí Quyết Ðể Sống Khỏe

Trần Anh Kiệt
Sưu tập & Chuyển ngữ

Bài I: Mười Phương Pháp Ðể Kiện Thân và Sống Trường Thọ

(Kiện Khương Trường Thọ Thập Bí Quyết)
Nguyên bản Hoa Ngữ của Thánh Thiên Ðường Ðạo Tràng ở Ðài Trung (Ðài Loan) phát hành

Lời tựa của ngài Diêu Trì Kim Mẫu

Sách Y Học Cổ Ðiển Nội Kinh của Trung Quốc có viết: Thượng công trị vị bệnh, trung công trị dĩ bệnh. Có nghĩa trị bệnh chưa đến là thượng sách, còn trị bệnh đã phát khởi rồi chỉ là trung sách mà thôi. Hay nói đúng hơn người xưa cũng đã quan niệm một cách thiết thực về việc bảo vệ sức khỏe là phòng bệnh tốt hơn chữa bệnh.

Ngày nay, Nam Cực Tiên Ông nhận thấy các môn sinh Thánh Thiên của Ngài đã hết sức cần lao tâm lực để phụng sự đạo pháp và chúng sinh, nên đã giáng cơ chỉ dẫn để phù trợ cho họ luôn được sức khỏe dồi dào. Thứ đến là Ngài cũng nhìn thấy nhân loại tại thế gian điêu linh, đã bị dày vò bởi bệnh hoạn khổ sở và nguy khốn, nên đã cho phổ biến 10 bí quyết phòng chống bệnh tật bằng phương pháp ngoại khoa để tự chữa. Phương pháp này là cách hướng dẫn mọi người tự khám phá ra các điểm trọng yếu của mạch lạc hầu dùng áp chỉ hay án ma để điều hòa sự luân lưu máu huyết trong cơ thể. Cách thức thực hành rất giản dị và chúng ta ai nấy cũng đều có thể áp dụng được một cách dễ dàng.

Ngoài ra, đối với những người đã chịu nhiều đau khổ vì bệnh tật, thuốc men không chữa dứt, áp dụng thêm phương pháp ngoại khoa này để phối hợp chữa trị thì kết quả sẽ càng hữu hiệu thấy rõ.

Hy vọng những vị có lòng từ tâm, thương yêu đồng loại, hãy vì sự đau khổ của chúng sinh mà phổ biến quyển sách hữu ích này đến tận tay nhiều người thì công đức vô vàn biết mấy.

Thiên Vận Giáp Tý Niên, ngày 12 tháng 2.
DIÊU TRÌ KIM MẪU
Ðài Trung Thánh Thiên Ðường

xem bài đầy đủ tại đây nhé !

zaterdag 22 mei 2010

TRÀ CÁT CĂN (BỘT SẮN DÂY)

Cát căn (bột sắn dây) là một loại tinh bột vô cùng quí giá. Nó có năng lượng dương và là loại tinh bột chứa nhiều calori, mang lại sức mạnh và điều hòa hoạt động của hệ tiêu hóa.

Cát căn có thể dùng trong nấu ăn như làm sốt, cho vào rau cải xào v.v ... ngoài ra có thể dùng như trà, cách làm như sau:

Hòa tan một thìa cafe bột cát căn vào chút nước lạnh cho tan hết, thêm 1 cốc nước sôi và khuấy đều, thêm chút muối biển hoặc tamari, uống nóng: trà này có tác dụng tốt cho các loại cảm cúm, sốt nhẹ, nhức đầu.

- trà cát căn, mận muối: 1 thìa cafe đầy cát căn + 2 thìa canh nước lạnh khuấy đều + phần nạc của một quả ô mai muối lâu năm (umeboshi), thêm chừng 100ml (nửa cốc) nước, đem nấu cho chín trong, cho thêm vài giọt gừng nạo, thêm chút muối hoặc tamari rồi uống nóng. Trà này hữu dụng trong các trường hợp: mệt mỏi, cảm lạnh, rối loạn tiêu hóa (tiêu chảy) - riêng trường hợp này nên dùng ngày từ 2-3 lần cho tới khi ngừng tiêu chảy.

- trà củ sen, cát căn: nấu trà củ sen (nạo 5cm củ sen + chút gừng+ chút muối) đun sôi, cho thêm cát căn đã hòa nước lạnh. Tuyệt vời khi cảm lạnh, ho, sổ mũi ...

vrijdag 23 april 2010

VIÊM HỌNG - HO : CHỮA BẰNG RẺ QUẠT

Trong Đông y, vị thuốc này có tên là xạ can. Nó được dùng trong nhiều bài thuốc và chế phẩm trị viêm đường hô hấp rất công hiệu. Không dùng xạ can cho phụ nữ có thai.

Xạ can được coi là một vị thuốc quý chữa viêm họng, viêm amiđan có mủ, ho nhiều đờm, khản tiếng; chữa sốt, đại tiểu tiện không thông, sưng vú tắc tia sữa, đau kinh. Ngày dùng 3-6 g dưới dạng thuốc sắc hoặc bột làm viên ngậm, viên uống. Hoặc dùng 10-20 g thân rễ xạ can tươi, rửa sạch, nhúng qua nước sôi, giã nát với vài hạt muối, vắt nước ngậm và nuốt dần, bã hơ nóng, đắp vào cổ.

Trong y học cổ truyền Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á, xạ can được dùng phổ biến làm thuốc trừ nhiệt độc, long đờm, điều trị viêm họng, đau họng, viêm thanh quản, viêm amiđan, ho khạc ra nhiều đờm và hen khó thở. Ngày dùng 3-9 g.

Bài thuốc có xạ can: 

Chữa viêm họng: Xạ can 4 g, kinh giới 16 g, kim ngân, huyền sâm, sinh địa mỗi vị 12 g; bạc hà, cỏ nhọ nồi, tang bạch bì mỗi vị 8 g. Sắc uống ngày một thang.
Hoặc: Xạ can 6 g, sinh địa, huyền sâm mỗi vị 16 g; mạch môn, tang bạch bì, cam thảo nam, kê huyết đằng, thạch hộc, mỗi vị 12 g; tằm vôi 8 g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa viêm họng, ho đờm: Xạ can 6 g, sâm đại hành 15 g, mạch môn 15 g, cát cánh 6 g. Sắc uống ngày một thang. Hoặc:
- Xạ can 8 g, cam thảo dây hoặc mạch môn 10 g. Sắc uống ngày một thang.
- Xạ can 8 g, sài đất 10 g, đậu chiều (sao vàng) 8 g, cam thảo dây tươi 6 g. Sắc uống ngày một thang.
Viên nén chữa viêm họng: Mỗi viên có 0,08 g bột rễ và lá xạ can, bột cát cánh 0,01 g, bột trần bì 0,01 g, tá dược vừa đủ. Mỗi ngày dùng 10 viên, chia làm 3 lần ngậm.
Viên nén và sirô sâm can điều trị viêm họng cấp và mạn tính:
Mỗi viên nén chứa lượng cao tương đương 0,2 g xạ can và 0,5 g huyền sâm. Sirô chứa 8 g xạ can và 20 g huyền sâm trong 100 ml. Người lớn: mỗi ngày uống hay ngậm 8-15 viên, chia 3 lần. Trẻ em: Uống sirô mỗi ngày 2-3 thìa cà phê, chia 3 lần.

Chữa viêm amiđan cấp tính: Xạ can 6 g; kim ngân hoa, cỏ nhọ nồi, bồ công anh, mỗi vị 16 g, huyền sâm, sinh địa, sơn đậu căn mỗi vị 12 g; bạc hà, ngưu bàng tử mỗi vị 8 g; cát cánh 6 g. Sắc uống ngày một thang.
Hoặc: Xạ can 8 g; kim ngân hoa, thạch cao mỗi vị 20 g; huyền sâm, sinh địa, cam thảo nam mỗi vị 16 g; hoàng liên, hoàng bá, tang bạch bì mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa viêm amiđan mạn tính: Xạ can 8 g, huyền sâm 16 g; sa sâm, mạch môn, tang bạch bì, ngưu tất mỗi vị 12 g; thăng ma 6 g, cát cánh 4 g. Sắc uống ngày một thang.
Hoặc: Xạ can 8 g; sa sâm, mạch môn, huyền sâm, tang bạch bì mỗi vị 12 g. Sắc uống ngày một thang.

________
bài này tớ sưu tầm trên nét. Con gái tớ đã từng dùng xạ can khi còn nhỏ, thấy cũng đỡ ho phết.

donderdag 1 april 2010

tản mạn chuyện tắm

Sao tự dưng lại đi nói chuyện tắm ? vì tắm là một phần không thể thiếu trong việc giữ gìn sức khoẻ (hơn nữa, tắm, vốn thường là thời gian thư giãn vô cùng thoải mái và dễ chịu, nên nói đến tắm là chuyện dễ hiểu, hihi ...).
Tắm thế nào ? Một thời gian dài tớ hay tắm nước ấm (kể cả mùa hè, chán chưa !) và về mùa đông thì tắm nước hơi nóng. Thảo nào ốm đau triền miên, sổ mũi nhức đầu và … sợ lạnh. Thật may mắn, tớ gặp được trang web Thực dưỡng, đọc bài về tắm nóng lạnh; đồng thời hữu duyên gặp cuốn sách “axít và kiềm” (tác giả Herman Aihara, do Phạm Đức Cần biên dịch) có một đoạn ngắn nói về tắm âm dương nóng lạnh để kiềm hoá dòng máu và tạo lập ý chí cho con người. Đọc xong tớ thấy có nhiều cảm hứng để thực hành (mặc dù quả thực, ban đầu rất là … run, hic ).
Kết quả: thực hành đúng vào cuối thu. Mùa đông năm vừa rồi rất lạnh (lạnh hơn năm ngoái trung bình 5 độ), nhưng tớ không thấy lạnh lắm. Cả mùa đông không cần dùng đến áo len cổ lọ dầy như mọi năm, và bệnh viêm mũi dị ứng hơn mười năm qua cũng đỡ hẳn.

Cách tắm thì giống như dưới đây, xin chia xẻ cùng tất cả các bạn hữu duyên. Xin tán thán và tuỳ hỷ công đức của những người đã giới thiệu phương pháp này cho cộng đồng.

Phương pháp tắm tương phản nóng lạnh

(Dân trí) - Rất nhiều người đã biết đến phương pháp tắm tương phản nóng lạnh. Tuy nhiên lợi ích của nó đối với cơ thể, cách áp dụng phương pháp này và đối tượng áp dụng phương pháp có lẽ nhiều người chưa rõ.
Những điều dưới đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về phương pháp tắm này.

Phương pháp tắm tương phản nóng lạnh rất có lợi cho sức khỏe.
Dưới tác động của nước nóng, cơ thể của bạn được thư giãn, thả lỏng, còn dưới tác động của nước lạnh, trương lực của các cơ trong cơ thể, độ dẻo dai và đàn hồi của các cơ tăng đáng kể.
Dòng nước nóng làm cho các lỗ chân lông ở da nở rộng ra, còn dòng nước lạnh thì ngược lại, làm cho chúng co lại. Kết quả là, các bụi bẩn sẽ thoát ra khỏi các lỗ chân lông trên da.
Tắm tương phản nóng lạnh là một phương pháp rất hữu hiệu giúp làm sạch da.
Tắm tương phản nóng lạnh có vai trò rất lớn trong việc điều hòa hệ thần kinh. Liệu pháp này giúp cho việc lưu thông máu giữa các bộ phận và các mô trong cơ thể tốt hơn, giúp tăng cường quá trình trao đổi chất trong cơ thể. Ngoài ra, còn giúp cơ thể loại bỏ những chất bẩn.
Sự chênh lệch nhiệt độ giúp cho cơ thể được tôi luyện.
Nên thực hiện liệu pháp này vào buổi sáng sau khi tập thể dục. Hãy bắt đầu dội nước ấm (360C) từ cổ khoảng 30 – 40 giây. Sau đó dội nước mát (300C) khoảng 15 – 20 giây.
Lặp lại 3 lần.
Thời gian đầu khi chưa quen xác định nhiệt độ của nước. Bạn nên dùng thiết bị đo nhiệt độ nước. Sau này, khi đã quen, bạn có thể xác định nhiệt độ nước theo cảm giác của bản thân.
Sau khoảng 7 –10 ngày, sự chênh lệch giữa nhiệt độ nước nóng và nước lạnh lạnh nên tăng thêm khoảng 5 0C.
Sau khoảng 2,5 – 3 tháng, chênh lệnh nhiệt độ giữa nước nóng và nước lạnh cần phải đạt là 25 – 300C. Lúc này, nước nóng cần đạt khoảng 40 - 500C, còn nước lạnh là 10 - 150C.
Theo ý kiến của các chuyên gia, sự chênh lệch nhiệt độ như trên mang lại hiệu quả nhất cho cơ thể.
Nên kết thúc liệu bằng cách dội nước lạnh. Tuy nhiên không nên kéo dài đến lúc cơ thể cảm thấy ớn lạnh.
Nếu bị nổi da gà trên da, bạn nên hạn chế thực hiện liệu pháp này.
Sau khi tắm tương phản nóng lạnh, cần phải xoa bóp cơ thể bằng một chiếc khăn.
Nếu bạn thực hiện liệu pháp này đúng cách, bạn sẽ cảm thấy rất thoải mái và sảng khoái.
Phương pháp này không nên áp dụng đối với những người có bệnh về huyết áp, xuất huyết não, các bệnh về tim mạch.
Nếu bạn muốn thử liệu pháp tắm tương phản nóng lạnh, trước hết bạn nên xin tư vấn của bác sỹ.

Hường Anh
Theo gen.su

Tắm âm dương- Liệu pháp mới cho sức khoẻ
(theo trang web thucduong.vn)

Đây là phương pháp mà hầu hết người Nhật đều biết, có phổ biến và có nhiều người áp-dụng thành-công :

Sau khi tắm xong dưới vòi nước bông sen trong phòng tắm; mình tăng độ nước nóng lên chừng 45-50 độ C (cao hay thấp hơn tùy ý và tùy sức chịu đựng của cơ thể nhưng không quá nóng); đứng dầm nước nóng chừng 2 đến 3 phút ; sau đó giảm nước nóng và tăng nước lạnh lên từ từ và lạnh đến mức nào mà cơ thể có thể chịu được cũng từ 2 đến 3 phút . Sau khi quen có thể tăng mức lạnh của nước.

Tắm âm dương chừng vài hôm sẽ thấy sức khỏe gia tăng, con người sẽ có thêm nhiều sức sống và khả năng chịu đựng thời-tiết, hệ miễn nhiễm sẽ hết sức mạnh mẽ ! Tắm âm-dương có thể áp-dụng quanh năm suốt tháng cho dù mùa Đông hay mùa Hè. Tác dụng của nó như sau : khi cơ thể dầm nước nóng là dương, nhưng dương sanh ra âm làm dản nở các mạch máu trong cơ-thể, máu được dương hóa nên thu hút lôi kéo những chất dơ do tế bào bài tiết ra, vốn âm hơn, còn đọng lại trong xương, gân, các tạng phủ (như urê, uric, axit lactic..), vào các mao mạch và sau đó được bài tiết ra khỏi cơ thể dễ dàng hơn, môi trường quanh các tế bào trở nên trong sạch, khiến chúng hoạt động hiệu quả hơn. ….Rồi ngay sau đó khi tăng dần độ lạnh là âm, nhưng âm lại sanh ra dương : vậy là các mạch máu teo nhỏ lại, nước lạnh sẽ kích-thích trung-khu thần kinh và toàn bộ cơ-thể phản ứng lại bằng cách tiêu-thụ các chất dinh-dưỡng và đốt cháy nó để tăng sức nóng chống lại cái lạnh… Do cơ chế ưu tiên của cơ thể, chất dinh dưỡng trong những mô kém quan trọng nhất (có mối liên hệ về khí với cơ thể lỏng lẻo) sẽ được huy động trước, chúng thường chứa nhiều tế bào già, yếu. Do vậy, phần tắm lạnh có tác dụng chống lão hóa

Tắm Âm-Dương kích-thích làm cho cơ-thể luôn trẻ-trung, chống lão-hóa và gia tăng sức sống 1 cách mãnh-liệt và hoàn-toàn thiên-nhiên……và dĩ-nhiên là chống bệnh-tật rất hữu hiệu !

Việc ăn uống để dương hóa dòng máu cũng giúp cơ thể đào thải độc tố mạnh mẽ tương tự như phần tắm nóng, nhưng triệt để hơn. Do đây là nguyên lý đào thải độc tố của cơ thể, nên tuy đa phần các chất độc cần đào thải là dạng axit, một chế độ ăn nhiều khoáng chất để trung hòa chúng, nhưng lại âm (tức là dùng nhiều các thực phẩm dạng kiềm âm) sẽ có tác dụng đối trị hiệu quả các bệnh cấp tính (luôn xảy ra do cơ chế thải độc của cơ thể), nhưng không bao giờ giải quyết được tận gốc vấn đề, và không có tác dụng với các bệnh âm. Đây cũng là lý do những người tạng dương luôn khỏe mạnh, nhanh nhẹn và trẻ trung lâu hơn những người tạng âm. Những người dương tạng cũng thường thích tắm nước lạnh, ngay cả vào mùa Đông, trừ phi họ đã bị âm hóa.
(bài do ông Lương Trùng Hưng viết)

Lưu ý một chút là, nên bắt đầu tắm nước lạnh từ bàn chân, trái, sang phải, rồi lên đùi, bụng, ngực, vai trái, vai phải, lưng và cuối cùng là đầu. Không nên đột ngột tắm lạnh luôn từ đầu xuống rất nguy hiểm.
Hiện tại nhiệt độ nước tắm của tớ là: nóng 45-47 độ, nước lạnh 17 độ.


Chúc tất cả luôn dồi dào sức khoẻ, may mắn và nhiều niềm vui.

zondag 12 april 2009

Hạt vừng chữa nhiều bệnh

Để chữa chứng nôn mửa, lấy một bát hạt vừng, giã nát, thêm ít nước sôi để nguội, ép lấy nước cốt. Khi uống, pha thêm chút muối, bệnh sẽ lành.

Cây vừng còn gọi là cây mè, chữ Hán gọi là Chima, hạt vừng là Chi ma tử. Sử sách chép rằng, cây vừng vốn ở nước Hồ (tên xưa kia của Ấn Độ), vì vậy người Trung Hoa còn gọi cây vừng (kể cả vừng đen) là Hồ ma và hạt vừng là Hồ ma tử. Ngoài ra, vừng còn được gọi với nhiều tên khác nhau như Du tử miêu, Duma, Cẩu sát, Cự thắng…

Theo sách Bản thảo cương mục thì hạt vừng bổ dưỡng ngũ tạng, chưng với mật ong chữa được nhiều bệnh. Với Nam dược thần hiệu thì: “Hạt vừng vị ngọt, tính hàn, không độc, chất trơn, nhuận tràng, giải độc, tiêu nhiệt kết, sát khuẩn, có tác dụng thúc sản phụ sinh, chữa mụn lở rất công hiệu”.

Vừng có hai loại trắng và đen, trong đó vừng đen nhiều dược tính hơn nên được dùng làm thuốc chữa bệnh. Vừng đen vị ngọt, tính bình, tác dụng dưỡng huyết, nhuận táo, bổ ngũ tạng, hư nhược, ích khí lực, đầy tủy não, bền gân cốt, sáng mắt, thêm thông minh, dùng ngoài đắp trị sưng tấy, vết bỏng và làm cao dán nhọt.

Lá vừng vị ngọt, tính lạnh, có tác dụng ích khí, bổ não tủy, mạnh gân cốt, khỏi tê thấp. Nấu lá vừng làm nước gội đầu thường xuyên giúp tóc có màu đen mượt, da mặt thêm tươi tắn. Nếu giã lá vừng tươi vắt lấy nước cốt uống chữa được bệnh rong huyết.

Một số bài thuốc

Thuốc bổ dùng cho mọi bệnh (uống kết hợp): Vừng đen, lá dâu non lượng như nhau, đem tán bột vo thành viên, dùng uống hàng ngày.

Chữa ngã, đau nhức, bầm tím: Dùng dầu vừng hòa lẫn rượu uống sẽ khỏi.

Chữa rết cắn: Nhai vài hạt vừng đắp vào vết cắn, băng lại.

Chữa táo bón: Uống 1 chén dầu vừng hoặc mỗi buổi sáng ăn một nắm hạt vừng là khỏi, hoặc có thể nấu cháo vừng ăn cho dễ.

Chữa bỏng: Lấy dầu vừng hay nhai vừng đen sống, đắp vào nơi bỏng rất hiệu nghiệm, chóng lên da non.

Chữa kiết lỵ mới phát: Ăn sống vừng đen mỗi ngày 30 g. Ăn trong 3 ngày.

Chữa điên cuồng: Theo Nam dược thần hiệu, lấy dầu vừng 160g, rượu 1 bát, cho hòa lẫn rồi đun lên; lấy 20 cành dương liễu, dùng từng cành khuấy 2 lần vòng tròn, đến khi thấy rượu và dầu vừng còn lại 8/10 thì cho người bệnh uống để có thể nôn ra và ngủ say, đừng đánh thức, cứ để ngủ yên, đợi khi thức dậy sẽ tỉnh.

Chữa trúng nắng ngất xỉu: Lấy 40 g vừng đen sao gần cháy, để nguội, tán bột và cho uống, mỗi lần uống 12 g, chiêu với nước mới mục (tân cấp thủy) rất công hiệu (theo Nam dược thần hiệu).

Chữa ngộ độc nặng: Cho uống dầu vừng một bát, chất độc sẽ được nôn ra (theo Nam dược thần hiệu).

Chữa chứng thương hàn vàng da (theo Ngoại đài bí yếu): Dùng hạt vừng đen còn tươi giã nát, ép lấy đủ một tách trà dầu, thêm nửa tách trà nước và 1 lòng trắng trứng gà, khuấy đều, cho uống hết một lần, uống vài lần sẽ khỏi.

Chữa bụng đầy trướng: Vừng đen 1 bát (ăn cơm), nấu thành cháo, thêm ít muối và một miếng vỏ quýt thái nhỏ, múc ra để hơi nguội, húp ăn sẽ khỏi.

Chữa tiểu ra máu (theo Nam dược thần hiệu): Nguyên nhân là do hỏa uất của tâm đưa nhiệt xuống tiểu trường mà sinh ra chứng tiểu ra máu. Lấy 40 g vừng đen, giã nát, ngâm với 80 g nước đang chảy (gọi là trường lưu thủy) sau 1 đêm, sáng hôm sau vắt lấy nước uống thì khỏi (có thể dùng nước sôi để nguội thay nước đang chảy, nếu ngại nước không hợp vệ sinh).

Chữa đinh nhọt chảy máu: Theo Ứng nghiệm lương phương, uống một tô dầu vừng là cầm.

Chữa mụn nhọt lở loét: Lấy 1 vốc vừng đen, rang, tán nhỏ, rửa sạch máu mủ trên nhọt bằng nước muối ấm, sau đó đắp bột vừng lên vết nhọt vài lần sẽ khỏi.

Chữa đau lưng: Đau lưng do thận suy hay phong hàn thấp: Vừng đen 40 g sao cháy, tán bột, mỗi lần uống 12 g với rượu hoặc mật hay nước gừng, uống vài ba lần sẽ khỏi (theo Nam dược thần hiệu).

Chữa kiết lỵ mãn tính: Lấy 1 bát hạt vừng đen giã nhỏ, sau đó nấu kỹ pha thêm chút mật ong, uống ngày 2 lần, dùng vài ngày sẽ khỏi.

Chữa viêm đại tràng mạn: Vừng đen 40 g rang bốc mùi thơm và 1 bát mật mía, mỗi lần uống 1 thìa canh vừng trộn lẫn với 1/3 thìa canh mật, uống ngày 2 lần, uống liên tục trong một tháng sẽ khỏi.

Chữa chân tay đau buốt hơi thũng: Đây là chứng do thấp nhiệt thâm nhiễm làm chân tay đau buốt và hơi thũng. Cách chữa là dùng 40 g vừng đen, rang có mùi thơm, tán bột, đổ vào 40 g rượu, ngâm trong một đêm, chia đều uống nhiều lần, bệnh sẽ giảm dần và khỏi (theo Nam dược thần hiệu).

Chữa tai bỗng dưng điếc: Thường do thận bị bệnh làm thận khí và tâm khí không lưu thông với nhau bình thường. Lấy dầu vừng nhỏ vào tai vài giọt, nhỏ mỗi ngày đến khi nào hết điếc thì thôi (Nam dược thần hiệu).

Chữa đau răng: Đau răng do hỏa vượng, phát nhiệt gây nên, cần dùng vừng đen sắc với 3 bát nước, còn lại 1 bát chia đều mà ngậm và xúc miệng nhiều lần trong ngày, chỉ cần hai lần sẽ khỏi.

Chữa cổ họng sưng đau, nói khó, nuốt đau: Dùng dầu vừng, ngậm và nuốt từ từ, thường xuyên rất hiệu nghiệm.

Chữa sinh khó vì khô nước ối: Lấy dầu vừng với mật ong mỗi thứ 1 bát (bát ăn cơm), đem đun sôi vài lần, vớt bỏ bọt, sau lấy trộn cùng hoạt trạch 40 g và cho sản phụ uống, thai sẽ thoát ra (theo Nam dược thần hiệu).

Chữa nhũ ung: Chứng này gặp ở phụ nữ sau sinh, tuyến sữa bị tắc nghẽn làm vú sưng to, đau nhức (áp-xe vú). Dùng hạt vừng tươi nhai nhuyễn rồi đắp lên nơi vú sưng đau vài lần sẽ khỏi.

Chữa rụng tóc: Vừng một bát, rang chín tán nhuyễn, thêm đường, nấu uống nhiều lần, tóc sẽ đen mượt, hết rụng.

Chữa thiếu sữa (theo Tế thế kỳ phương): Lấy 40 g vừng đen rang nở trên muối ăn, sau đó đem giã nhỏ chấm xôi hay cơm nếp ăn rất hiệu nghiệm.

Chữa sau sinh bị xổ ruột: Lấy giấy tẩm dầu vừng, đốt cháy lên rồi thổi tắt để xông khói vào mũi sản phụ, ruột sẽ rút thu vào như cũ (theo Y học chuẩn thằng).

Chữa đau tim khi đang mang thai: Theo Thiên kim phương, lấy một vốc hạt vừng sắc với hai chén nước, khi còn độ 6 phần thì lọc bỏ bã lấy nước uống hết, rất hay.

Chữa thai chết lưu không ra: Lấy 40 g dầu vừng và 40 g mật nứa, đổ lẫn vào nhau, thêm nước nấu lên, sau lấy ra uống, thai sẽ ra khỏi bụng (theo Phổ tế phương).

Chữa khó sinh: Lấy 1 tách dầu vừng hòa 1 tách mật ong, sắc còn lại một nửa cho uống, uống 3 lần sẽ sinh được (theo Phổ tế phương).

Chữa âm hộ ngứa, sinh lở: Lấy vài hạt vừng nhai nhuyễn đắp vào nơi lở vài lần là khỏi.

Chữa tóc xấu, ngắn, khô, không đen mượt: Có thể dùng một trong hai cách sau:

- Lấy 40 g dầu vừng nấu với một nắm lá dâu tươi, khi dầu sôi kỹ, lá dâu chín nhừ vớt bỏ lá dâu, lấy dầu này sát lên tóc và da đầu, kiên trì hàng ngày sẽ thấy tóc mọc dài, đen mượt rất đẹp.

- Lấy một nắm lá vừng, một nắm lá dâu và 40 g nước gạo cho vào siêu nấu lên, dùng nước này gội đầu, sau 7 lần gội sẽ hiệu quả.

Chữa sốt nóng ở trẻ em: Khi trẻ sốt nóng, lấy một chén dầu vừng, chế thêm chút nước cốt của củ hành, khuấy đều, dùng thoa đầu, mặt, cổ, gáy, ngực, lưng, và lòng 2 bàn tay, 2 bàn chân sốt sẽ dịu.

Chữa chứng đơn độc ở trẻ em: Chứng đơn độc ở trẻ là bỗng nhiên thấy trẻ bị sưng đỏ ở mặt, mình, tay, chân… và ngứa, nóng rất khó chịu, nằm ngủ không yên. Khử bệnh mới phát phải dùng dầu vừng bôi vào khắp người là khỏi.

Chữa phù thũng độc mới phát: Nguyên nhân là do chất độc trong người tụ lại làm sưng người, kết thành những cục cứng gây đau nhức. Lấy một chén dầu vừng cho thêm nước cốt hành vào rồi cô đặc, khi thấy nước cô có màu đen là được, lấy đắp vào nơi sưng đau khi còn nóng vừa, chỗ sưng sẽ tiêu ngay.

Chữa ung nhọt phá miệng lâu ngày không thu miệng: Dùng vừng đen sao cháy, tán bột, rắc vào miệng nhọt vài lần nhọt sẽ thu miệng, phương pháp này theo Nam dược thần hiệu là rất hay.

Chữa ung nhọt độc: Cũng theo Nam dược thần hiệu, lấy 40 g dầu vừng nấu sôi một lúc lâu thì đổ thêm vào một bát ăn cơm giấm thanh. Sau chia ra 5 phần, mỗi lần uống 1 phần rất công hiệu.

Chữa tay chân sưng đau do lội nước quá lâu: Lấy hạt vừng sống giã nhuyễn, đắp vào nơi sưng đau vài lần là khỏi.

Chữa lang ben trắng: Dùng 1 chén dầu vừng hòa với rượu uống ngày 3 lần, uống đến khi khỏi.

Chữa rết cắn: Lấy hạt vừng nhai nhuyễn đắp vào, chỉ chốc lát là hết sưng đau.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)